Những nội dung chủ yếu của phân tích ngành và áp dụng cụ thể với chứng khoán Việt Nam

Những nội dung chủ yếu của phân tích ngành và áp dụng cụ thể với chứng khoán Việt Nam

Phân tích ngành là việc tìm hiểu và đánh giá một ngành kinh doanh cụ thể thông qua các vấn đề như tương quan cung cầu thị trường, mức độ cạnh tranh trong ngành, triển vọng tương lai và ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài đến ngành…Trong quy trình đánh giá và lựu chọn cổ phiếu thì phân tích ngành là một trong những bước đầu tiên và quan trọng do nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về môi trường hoạt động, lợi thế cạnh tranh, cơ hội phát triển cũng như rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp.

Bài 1: Bạn làm gì để hoàn thiện thành một NĐT cổ phiếu Vĩ Đại
Bài 3: Giác ngộ bản thân về tài chính
Bài 4: Lợi nhuận bất thường, lợi nhuận rẻ tiền: Cái bẫy nhiều NĐT

Hiểu được tầm quan trọng của phân tích ngành trong phân tích đầu tư chứng khoán nên trong bài viết này, SAPP sẽ giới thiệu với các bạn những nội dung chủ yếu của phân tích ngành và áp dụng cụ thể với chứng khoán Việt Nam. Bài viết sẽ tham khảo và lấy minh họa từ “ Báo cáo ngành phân bón” của Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT (FPTS) lập tháng 09/2019.

1. Xem xét lịch sử hình thành và chu kỳ sống của ngành

Các ngành kinh doanh cũng như các doanh nghiệp, thường trải qua một loạt các giai đoạn, từ hình thành rồi tăng trưởng đến bão hòa và cuối cùng là suy thoái. Việc xác định được ngành kinh doanh đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống giúp chúng ta thấy được mức độ cạnh tranh cũng như triển vọng về doanh thu, lợi nhuận của các doanh nghiệp trong ngành.

                                                                        

Mô hình chu kỳ sống của ngành (Nguồn: internet)   

Mô hình chu kỳ sống của ngành là một công cụ hữu ích để xác định giai đoạn hiện tại của ngành cũng như phân tích tác động của sự tiến triển ngành đến các lực lượng cạnh tranh. Với mô hình này chu kỳ sống của một ngành kinh doanh được chia ra năm giai đoạn, bao gồm: [1] thời kỳ hình thành (development); [2] giai đoạn tăng trưởng (growth) ; [3] giai đoạn tái tổ chức (shake-out); [4]  thời kỳ bão hòa (mature) ; [5] giai đoạn ngành suy thoái (decline). Cụ thể các giai đoạn như sau:

  • Giai đoạn hình thành có đặc điểm là tăng trưởng ở mức thấp và giá sản phẩm cao do ngành kinh doanh còn mới và khách hàng vẫn còn đang làm quen với sản phẩm.
  • Giai đoạn tái tổ chức: cầu sản phẩm dần đạt đến bão hòa, cạnh tranh gay gắt giữa các công ty để giành thị phần khiến cho lợi nhuận sụt giảm. Giai đoạn này các doanh nghiệp thường có các động thái tái cơ cấu, mua bán, sáp nhập để có được cơ cấu chi phí hiệu quả hơn.
  • Giai đoạn bão hòa: cầu sản phẩm đã bão hòa khiến cho tăng trưởng ở mức thấp hoặc không có tăng trưởng. Một số ít doanh nghiệp còn tồn tại thường có cơ cấu chi phí hiệu quả hoặc có nhiều khách hàng trung thành khiến cho rào cản gia nhập ngành rất cao.
  • Giai đoạn suy thoái: lúc này tăng trưởng sản lượng ở mức âm, công suất dư thừa cao khiến cho cạnh tranh giữa các đơn vị tăng lên đặc biệt là cạnh tranh về giá.

Chúng ta có thể tham khảo nhận định về vòng đời của ngành phân bón Việt Nam trong báo cáo về ngành này vào tháng 9/2019 của Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT như sau: “Ngành phân bón Việt Nam  đã bước vào giai đoạn bão hòa,  tốc độ  tiêu thụ  sụt giảm nhanh chóng, CAGR (tốc độ tăng trưởng kép hàng năm) giai đoạn 2001 – 2015 chỉ dao động từ 2,5% – 3,9%/năm và giảm còn 1,96%/năm giai đoạn 2016 – 2018. Một số sản phẩm phân NPK, Urê, lân (chiếm gần 70% tổng nhu cầu phân bón) đã bắt đầu dư cung. Trong giai đoạn tới, việc triển khai các dự án NPK chất lượng cao thay thế sản phẩm nhập khẩu kỳ vọng tạo nền tảng tăng trưởng cho ngành phân bón trong nước. Tuy nhiên mức độ cạnh tranh sẽ càng trở nên gay gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng trưởng bền vững.”

2. Phân tích môi trường cạnh tranh trong ngành

Môi trường cạnh tranh ngành là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng tạo ra doanh thu, lợi nhuận, chiến lược cũng như cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, đây là một nội dung không thể thiếu trong phân tích ngành.

Trong đánh giá môi trường cạnh tranh của ngành, mô hình Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter (Michael Porter’s “five forces” framework) thường được áp dụng. Với mô hình này, mức độ cạnh tranh trong ngành được quyết định bởi năm nhân tố sau:

                      Mô hình Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter (Nguồn: Internet)

  • Nguy cơ đối thủ mới gia nhập: thể hiện ở mức độ rào cản gia nhập ngành, nếu các đối thủ mới có thể dễ dàng gia nhập thì ngành đó có rảo cản thấp, dẫn đến mức độ cạnh tranh cao trong nội bộ ngành.
  • Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp: thể hiện khả năng quyết định các điều kiện giao dịch của họ đối với doanh nghiệp như nâng giá hoặc hạn chế nguồn cung.
  • Sức mạnh mặc cả của khách hàng: nếu khách hàng mạnh, họ có thể buộc giá hàng phải giảm xuống, khiến tỷ lệ lợi nhuận của ngành giảm, điều này được thể hiện rõ trong các ngành mang tính độc quyền mua khi có nhiều nhà cung cấp trong khi lại có rất ít người mua.
  • Nguy cơ từ sản phẩm thay thế: có thể ảnh hưởng mạnh đến cầu sản phẩm nếu như khách hàng chuyển sang lựa chọn sản phẩm thay thế đến từ các ngành khác.
  • Sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại: đây kết quả của sự tổng hợp các yếu tố cạnh tranh ở trên. Một ngành có sự cạnh tranh gay gắt thương có các đặc điểm như: thị trường phân mảnh với rất nhiều đối thủ, chi phí cố định cao, sản phẩm mang tính tương đồng, chi phí để rút khỏi ngành cao.

Bảng hợp mô hình cạnh tranh Porter của ngành phân bón Việt Nam (Nguồn: báo cáo phân tích ngành phân bón của Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT)

Bảng hợp mô hình cạnh tranh Porter của ngành phân bón Việt Nam (Nguồn: báo cáo phân tích ngành phân bón của Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT)

Chúng ta có thể tham khảo nhận định của Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT về ngành phân bón trong báo cáo ngành vào tháng 09/2019 như sau: “Mức độ cạnh tranh ngành Phân bón Việt Nam ở mức cao. Các lĩnh vực sản phẩm khác nhau thì mức độ cạnh tranh cũng có sự khác biệt. Trong đó, chúng tôi đánh giá thị trường có mức độ cạnh tranh gay gắt nhất là thị trường NPK.”

3. Phân tích cung, cầu thị trường

Mối tương quan cung-cầu thị trường cũng là một nội dung quan trọng trong phân tích ngành. Ảnh hưởng của yếu tố này đến triển vọng phát triển của các doanh nghiệp trong ngành là rất rõ ràng: hệ quả của dư thừa nguồn cung sản phẩm đó là sự cạnh tranh ngày càng tăng lên đặc biệt là cạnh tranh về giá, dẫn đến sụt giảm về doanh thu cũng như lợi nhuận của các doanh nghiệp trong ngành.

Dưới dây là một số nhận định được đưa ra trong báo cáo phân tích ngành phân bón Việt Nam của công ty chứng khoán FPT

“Ngành phân bón trong nước đang trong giai đoạn bão hòa, tốc độ tiêu thụ sụt giảm nhanh chóng. Giai đoạn 2001 –  2015, tốc độ tăng trưởng  đạt từ 2,5% –  3,9%/năm  và giảm còn 1,96%/năm trong  2016 –  2018. Một số mảng sản phẩm NPK, Urê, lân (chiếm gần 70% tổng nhu cầu) đã bắt đầu dư cung. Sản xuất phân DAP trong nước đáp ứng được 35% tổng nhu cầu, phần còn lại vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu.

“Giai đoạn 2019  –  2023, dự báo nhu cầu phân bón Việt Nam tăng trưởng ở mức  1,6%/năm  nhờ  tăng trưởng sản xuất các mặt hàng nông sản (lúa: +1%/năm, ngũ cốc: +2%/năm, cà phê: +1,7%/năm)”.

4. Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh khác

Các yếu tố môi trường khác có thể ảnh hưởng đến đến tăng trưởng, lợi nhuận và rủi ro của ngành kinh doanh bao gồm: tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách của nhà nước, thay đổi về công nghệ và các yếu tố xã hội khác.

Tình hình kinh tế vĩ mô

Xu hướng và tình hình phát triển chung của nền kinh tế của ảnh hưởng lớn đến nhu cầu sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Một vài biến số kinh tế vĩ mô thường có ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của các ngành kinh tế như: tăng trưởng GPD, lạm phát, lãi suất, khả năng tiếp cận vốn tín dụng…

Cụ thể, FPTS đã đưa ra nhận xét về các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến ngành phân bón như sau:

“Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, thu nhập của người dân tăng nhanh thì nhu cầu chi tiêu cho thực phẩm cũng ngày càng gia tăng. Theo dự báo của World Bank, giai đoạn 2019 – 2020, GDP Việt Nam sẽ tăng trưởng với tốc độ khoảng 6 – 7%/năm, dân số được dự báo khoảng 96 triệu dân vào năm 2020. Với nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng, ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ tăng trưởng với tốc độ cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, thúc đẩy gia tăng nhu cầu tiêu thụ phân bón cho cây trồng”

Chính sách của Nhà nước với các ngành

Quan điểm của Nhà nước khuyến khích mở rộng hay hạn chế và thu hẹp có ảnh hưởng rất lớn nếu không muốn nói là quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các ngành kinh doanh trong một quốc gia. Các công cụ để Nhà nước điều tiết hoạt động của các ngành bao gồm đưa ra các quy định pháp luật về hoạt động của ngành nghề, các chính sách về thuế, ưu đãi, hỗ trợ hoặc các chính sách bảo hộ nhập khẩu.

Lấy ví dụ ngành phân bón tại Việt Nam đang được hưởng các ưu đãi từ Chính phủ như:

Các chính sách bảo hộ sản xuất phân bón trong nước được Chính phủ xem xét đưa ra như: thuế tự vệ đối với phân DAP, MAP; chính sách thuế GTGT sửa đổi sẽ góp phần cải thiện lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất phân bón. Thêm vào đó các Hiệp định Thương mại được ký kết giúp các doanh nghiệp tiếp cận được thị trường quốc tế, và nguồn nguyên liệu nhập khẩu chất lượng cao với giá rẻ hơn.

Ảnh hưởng của các thay đổi về công nghệ

Sự thay đổi về công nghệ dẫn đến sự cải tiến sản phẩm hay thậm chí là ra đời các sản hàng hóa thay thế hoàn toàn mới có thể đổi toàn diện một ngành kinh doanh, bắt buộc các doanh nghiệp phải thay đổi để bắt kịp xu thế mới nếu muốn tồn tại và phát triển.

Báo cáo ngành phân bón của FPTS có đưa ra nhận định sau: “Triển vọng dài hạn – Tận dụng cơ hội từ xu hướng nông nghiệp hữu cơ trên toàn thế giới”. Việc phát triển phân bón hữu cơ không chỉ giúp cải thiện chất lượng đất mà còn là nền tảng cho sự phát triển nền Nông nghiệp hữu cơ trong tương lai. Sản xuất và tiêu thụ phân bón hữu cơ tại Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng lớn”.

Kết thúc bài viết, SAPP xin trích dẫn khuyến nghị được FPTS đưa ra trong báo cáo như sau:

  • Ngắn hạn (6 - 12 tháng): KÉM KHẢ QUAN

Chúng tôi đưa ra khuyến nghị kém khả quan cho Ngành phân bón Việt Nam trong ngắn hạn với các lý do sau: (1) Nhu cầu phân bón sụt giảm trong ngắn hạn do ảnh hưởng của hiện tượng khí hậu El Nino đến   sản xuất nông nghiệp năm 2019; (2) Cạnh tranh gay gắt trong cả nội bộ ngành và các sản phẩm ngoại nhập, trong khi các chính sách của Chính phủ vẫn chưa giúp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước.

  • Trung và dài hạn (2 – 5 năm và trên 5 năm): THEO DÕI

Trong trung hạn, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước sẽ phần nào tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp phân bón, tuy nhiên, thời điểm các chính sách được thông qua chưa rõ ràng, cần theo dõi thêm.

Trong dài hạn, xu hướng nông nghiệp hữu cơ là hướng phát triển chung của thế giới và Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng thực phẩm và giảm tiêu cực tác động tới môi trường. Các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng bền vững trong dài hạn là những doanh nghiệp nắm bắt được xu hướng này,  tập trung  đầu tư nghiên cứu -sản xuất các sản phẩm phân hữu cơ, phân vi sinh với quy mô thương mại đạt chất lượng cao và chi phí thấp.

Nguồn: sapp.edu.vn

Bài 5: MARGIN: Nguyên nhân chính dẫn đến thua lỗ trên thị trường chứng khoán Việt Nam