Tới nội dung chính

Spread Là Gì? Giá Bid, Giá Ask Và Cách Tính Chi Phí Spread

Người Mới

Kiến Thức Trading · Kiểm tra ngày 07/11/2026

Bài này nằm trong khóa Nhập Môn TradingHọc Theo Lộ Trình
Spread Là Gì? Giá Bid, Giá Ask Và Cách Tính Chi Phí Spread
Trả Lời Nhanh

Spread là chênh lệch giữa giá ask (giá bạn mua vào) và giá bid (giá bạn bán ra) của cùng một sản phẩm tại cùng một lúc. Mua khớp ở giá ask, bán khớp ở giá bid, nên vừa mở lệnh xong bạn đã âm đúng một spread. Đây là chi phí giao dịch thường xuyên nhất, và nó giãn rộng khi thanh khoản mỏng hay khi có tin lớn.

Spread Là Gì?

Spread, tiếng Việt hay gọi là chênh lệch giá mua bán, là khoảng cách giữa hai giá mà nơi giao dịch báo cho cùng một sản phẩm: giá ask, mức bạn mua được ngay, và giá bid, mức bạn bán được ngay. Giá ask luôn cao hơn giá bid, phần chênh đó là spread.

Spread = giá ask − giá bid. Ví dụ EUR/USD báo 1,08500 / 1,08512 thì chênh lệch là 0,00012, tức 1,2 pip. Vàng báo 4.000,10 / 4.000,40 thì chênh 0,3 USD, tức 3 pip theo quy ước 1 pip vàng = 0,1 USD của site. Cách đổi khoảng giá ra pip nằm ở bài pip là gì.

Với người giao dịch, đây là một khoản phí không ghi trên hóa đơn: không có dòng nào trừ tiền, nhưng lệnh nào cũng trả. Bên báo giá thu phần chênh này khi đứng ra mua của người bán và bán cho người mua.

Giá Bid, Giá Ask Và Vì Sao Mở Lệnh Đã Âm

Cặp chữ bid ask đến từ cách một cái chợ vận hành: bid là giá người mua trả, ask là giá người bán đòi. Khi bạn bấm mua, bạn mua của người đang chào bán, nên khớp ở giá ask. Khi bạn bấm bán, bạn bán cho người đang chào mua, nên khớp ở giá bid.

  • Lệnh mua: mở ở giá ask, đóng ở giá bid.
  • Lệnh bán: mở ở giá bid, đóng ở giá ask.

Ngay sau khi mở, lệnh được tính lãi lỗ theo giá nó sẽ đóng. Mua vàng ở 4.000,40 thì lệnh được định giá theo giá bid 4.000,10, nên đang lỗ 0,3 USD mỗi ounce dù thị trường chưa nhúc nhích. Giá phải đi thuận đúng một khoảng chênh như vậy thì lệnh mới về hòa.

Đóng NgayBán ra ở Bid: âm 1 spreadĐóng NgayMua lại ở Ask: âm 1 spreadAsk, Giá Mua1,1002Spread0,0002 = 2 pipBid, Giá Bán1,1000Lệnh MuaMở ở giá AskLệnh BánMở ở giá BidMở lệnh xong đã âm đúng một spread: mua ở Ask 1,1002 thì đóng ngay phải bán ở Bid 1,1000, và ngược lại.Biểu đồ thường vẽ theo giá Bid. Số là ví dụ, spread đổi theo giờ và theo nơi giao dịch.Đóng NgayBán ra ở Bid:âm 1 spreadĐóng NgayMua lại ở Ask:âm 1 spreadAsk, Giá Mua1,1002Spread0,0002 = 2 pipBid, Giá Bán1,1000Lệnh MuaMở ở giá AskLệnh BánMở ở giá BidMở lệnh xong đã âm đúng một spread: mua ở Ask 1,1002thì đóng ngay phải bán ở Bid 1,1000, và ngược lại.Biểu đồ thường vẽ theo giá Bid. Số là ví dụ,spread đổi theo giờ và theo nơi giao dịch.

Hình trên vẽ hai đường giá bid và ask chạy song song, khoảng giữa là spread, cùng chỗ lệnh mua và lệnh bán mở, đóng.

Spread Cố Định Và Spread Thả Nổi

Có hai cách báo chênh lệch:

LoạiCách Hoạt ĐộngLúc Thị Trường YênLúc Có Tin Hay Thanh Khoản MỏngĐiểm Cần Biết
Cố địnhNơi giao dịch giữ một khoảng chênh định sẵnThường rộng hơn loại thả nổiKhoảng chênh giữ nguyên, nhưng có thể bị báo lại giá hoặc khớp trượtDễ tính chi phí trước
Thả nổiChênh lệch đi theo giá mua bán đang có trên thị trườngThường hẹpGiãn rộng, có lúc gấp nhiều lần bình thườngChi phí đổi theo giờ vào lệnh

So sánh định tính. Điều khoản mỗi nơi một khác.

Spread thả nổi thật trông như thế nào? Hình dưới lấy spread của vàng theo từng giờ trong ngày, từ một nguồn dữ liệu.

Biểu đồ cột spread vàng theo giờ UTC (dòng dưới ghi giờ Việt Nam, UTC+7), cột là trung vị, vạch là mức 90% số phút nằm dưới (p90), tính bằng pip (1 pip = 0,1 USD), 27.593 mẫu phút của 4 tuần mẫu: 0 giờ 6,57 (p90 8,90); 1 giờ 6,67 (p90 9,40); 2 giờ 6,54 (p90 8,90); 3 giờ 6,47 (p90 8,50); 4 giờ 6,40 (p90 8,40); 5 giờ 6,54 (p90 8,60); 6 giờ 6,40 (p90 9,00); 7 giờ 6,17 (p90 7,60); 8 giờ 6,07 (p90 7,90); 9 giờ 6,00 (p90 8,40); 10 giờ 6,07 (p90 8,40); 11 giờ 6,00 (p90 8,40); 12 giờ 6,07 (p90 8,91); 13 giờ 6,37 (p90 8,77); 14 giờ 6,30 (p90 9,30); 15 giờ 6,00 (p90 8,70); 16 giờ 5,90 (p90 8,40); 17 giờ 5,80 (p90 8,40); 18 giờ 5,70 (p90 8,40); 19 giờ 5,70 (p90 8,40); 20 giờ 5,80 (p90 8,40); 21 giờ 6,90 (p90 8,40); 22 giờ 6,58 (p90 8,27); 23 giờ 7,20 (p90 12,97). Cả 4 tuần: trung vị 6,26 pip, p90 8,40 pip. 21 và 22 giờ UTC chỉ có khoảng nửa số mẫu vì vàng nghỉ một giờ mỗi ngày (21 giờ UTC mùa hè Mỹ, 22 giờ UTC mùa đông). 4 tuần mẫu, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.
Spread vàng gần như đứng yên quanh 6 pip cả ngày; nhích lên nhất ở 23 giờ UTC (6 giờ sáng giờ Việt Nam), lúc vừa mở lại sau giờ nghỉ, khi 10% số phút rộng từ 13 pip trở lên. 4 tuần mẫu, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.

Trên MT5, spread thả nổi là loại hay gặp hơn. Một số loại tài khoản báo chênh lệch rất hẹp nhưng thu thêm phí hoa hồng (commission) theo lot; chi phí thật của một lệnh là cả hai cộng lại.

Với EUR/USD, chênh lệch hẹp hơn nhiều và gần như đứng yên mọi giờ, trừ quanh mốc chốt ngày.

Biểu đồ cột spread EUR/USD theo giờ UTC (dòng dưới ghi giờ Việt Nam, UTC+7), cột là trung vị, vạch là mức 90% số phút nằm dưới (p90), tính bằng pip (1 pip = 0,0001), 28.713 mẫu phút của 4 tuần mẫu: 0 giờ 0,40 (p90 0,70); 1 giờ 0,40 (p90 0,70); 2 giờ 0,40 (p90 0,60); 3 giờ 0,40 (p90 0,60); 4 giờ 0,40 (p90 0,70); 5 giờ 0,40 (p90 0,60); 6 giờ 0,40 (p90 0,60); 7 giờ 0,40 (p90 0,60); 8 giờ 0,40 (p90 0,60); 9 giờ 0,40 (p90 0,60); 10 giờ 0,40 (p90 0,60); 11 giờ 0,40 (p90 0,60); 12 giờ 0,40 (p90 0,60); 13 giờ 0,40 (p90 0,60); 14 giờ 0,40 (p90 0,60); 15 giờ 0,40 (p90 0,60); 16 giờ 0,40 (p90 0,60); 17 giờ 0,40 (p90 0,60); 18 giờ 0,40 (p90 0,60); 19 giờ 0,40 (p90 0,60); 20 giờ 0,40 (p90 0,60); 21 giờ 0,80 (p90 3,80); 22 giờ 1,10 (p90 3,60); 23 giờ 0,50 (p90 0,80). Cả 4 tuần: trung vị 0,40 pip, p90 0,70 pip. 4 tuần mẫu, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.
Spread EUR/USD đứng ở 0,4 pip gần như mọi giờ, chỉ giãn ở 21–22 giờ UTC (4–5 giờ sáng giờ Việt Nam), quanh mốc chốt ngày: trung vị lên 1,1 pip, 10% số phút từ 3,8 pip trở lên. 4 tuần mẫu, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.

Khi Nào Spread Giãn

Chênh lệch thả nổi phản ánh lượng giá chào mua, chào bán đang có. Khi bên chào giá ít đi hoặc rút lui, khoảng chênh mở rộng. Những lúc hay gặp:

  • Mốc chốt ngày. Quanh 17 giờ theo giờ New York, tức khoảng 4 hoặc 5 giờ sáng giờ Việt Nam tùy mùa, ngày giao dịch khép lại và nhiều bên báo giá tạm rút. Chênh lệch giãn rộng trong một lúc ngắn rồi co lại.
  • Đầu tuần. Lúc thị trường mở lại sau cuối tuần, giá chào còn thưa, giá có thể mở vượt và chênh lệch rộng hơn hẳn giữa tuần.
  • Lúc ra tin lớn. Quanh các tin như việc làm Mỹ, lạm phát hay quyết định lãi suất, bên báo giá rút bớt lệnh để tránh rủi ro, chênh lệch giãn trong vài giây tới vài phút.
  • Thanh khoản mỏng. Giờ chuyển giữa các phiên, ngày lễ và những cặp ít người giao dịch thường có chênh lệch rộng hơn.

Hình dưới đo mốc chốt ngày theo từng ô năm phút: EUR/USD giãn ngay lúc chuyển ngày, còn vàng nghỉ một giờ rồi mở lại với chênh lệch rộng.

Hai biểu đồ cột spread trung vị theo từng ô 5 phút từ 60 phút trước tới 120 phút sau mốc 17:00 giờ New York (21:00 UTC mùa hè Mỹ, 22:00 UTC mùa đông, tức 4 hoặc 5 giờ sáng giờ Việt Nam), vạch là p90, tính bằng pip, 4 tuần mẫu (20 ngày). Vàng: −60 phút: 5,60 (p90 8,40); −55 phút: 5,77 (p90 8,40); −50 phút: 5,90 (p90 8,40); −45 phút: 5,80 (p90 8,40); −40 phút: 5,90 (p90 8,40); −35 phút: 6,18 (p90 8,40); −30 phút: 6,20 (p90 8,40); −25 phút: 6,20 (p90 8,30); −20 phút: 5,92 (p90 8,40); −15 phút: 6,20 (p90 8,40); −10 phút: 6,37 (p90 8,68); −5 phút: 7,13 (p90 13,78); từ 0 tới +55 phút: không có báo giá (vàng nghỉ); +60 phút: 12,04 (p90 28,92); +65 phút: 10,55 (p90 23,79); +70 phút: 7,60 (p90 12,46); +75 phút: 7,20 (p90 13,03); +80 phút: 7,27 (p90 10,95); +85 phút: 7,37 (p90 10,34); +90 phút: 7,15 (p90 10,05); +95 phút: 7,02 (p90 9,10); +100 phút: 7,04 (p90 9,51); +105 phút: 6,87 (p90 9,07); +110 phút: 7,00 (p90 9,43); +115 phút: 7,34 (p90 9,77). EUR/USD: −60 phút: 0,40 (p90 0,60); −55 phút: 0,40 (p90 0,70); −50 phút: 0,40 (p90 0,60); −45 phút: 0,40 (p90 0,62); −40 phút: 0,40 (p90 0,60); −35 phút: 0,40 (p90 0,60); −30 phút: 0,40 (p90 0,60); −25 phút: 0,50 (p90 0,70); −20 phút: 0,50 (p90 0,70); −15 phút: 0,60 (p90 0,70); −10 phút: 0,50 (p90 0,70); −5 phút: 0,70 (p90 1,71); 0 phút: 4,10 (p90 6,40); +5 phút: 3,10 (p90 4,82); +10 phút: 2,95 (p90 4,00); +15 phút: 2,45 (p90 4,31); +20 phút: 2,40 (p90 3,80); +25 phút: 2,20 (p90 4,58); +30 phút: 1,90 (p90 3,56); +35 phút: 1,90 (p90 3,33); +40 phút: 1,85 (p90 3,32); +45 phút: 2,25 (p90 3,71); +50 phút: 2,00 (p90 3,77); +55 phút: 2,35 (p90 4,43); +60 phút: 0,90 (p90 1,40); +65 phút: 0,90 (p90 1,30); +70 phút: 0,60 (p90 1,10); +75 phút: 0,60 (p90 0,90); +80 phút: 0,60 (p90 1,00); +85 phút: 0,60 (p90 0,90); +90 phút: 0,60 (p90 0,90); +95 phút: 0,60 (p90 0,90); +100 phút: 0,60 (p90 0,90); +105 phút: 0,50 (p90 0,90); +110 phút: 0,50 (p90 0,83); +115 phút: 0,50 (p90 0,80). 4 tuần mẫu, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.
EUR/USD giãn ngay lúc 17:00 New York, trung vị gấp khoảng 10 lần bình thường. Vàng nghỉ một giờ không báo giá, rồi mở lại lúc 18:00 New York với spread trung vị gấp khoảng 2 lần bình thường trong 5 phút đầu. 4 tuần mẫu, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.

Lúc thị trường mở lại tối Chủ Nhật cũng vậy: chênh lệch rộng nhất trong những phút đầu, rồi co dần về mức thường.

Hai biểu đồ cột spread trung vị theo ô 5 phút trong 3 giờ đầu tuần, tính từ báo giá đầu tiên tối Chủ Nhật (giờ UTC), vạch là p90, tính bằng pip, 4 tuần mẫu, mỗi ô khoảng 20 mẫu phút; đường đứt là trung vị cả 4 tuần. Vàng (mỗi 15 phút một mốc): 0 phút: 14,86 (p90 29,38); 15 phút: 9,79 (p90 19,14); 30 phút: 7,49 (p90 12,15); 45 phút: 6,04 (p90 11,24); 60 phút: 8,34 (p90 13,70); 75 phút: 7,02 (p90 13,30); 90 phút: 6,82 (p90 10,60); 105 phút: 7,22 (p90 11,32); 120 phút: 7,55 (p90 15,72); 135 phút: 6,68 (p90 11,33); 150 phút: 7,45 (p90 13,36); 165 phút: 7,07 (p90 10,99). EUR/USD: 0 phút: 3,70 (p90 5,42); 15 phút: 3,75 (p90 5,05); 30 phút: 2,30 (p90 3,74); 45 phút: 3,55 (p90 5,14); 60 phút: 0,90 (p90 1,40); 75 phút: 0,70 (p90 1,10); 90 phút: 0,50 (p90 1,10); 105 phút: 0,50 (p90 0,80); 120 phút: 0,50 (p90 0,62); 135 phút: 0,50 (p90 0,80); 150 phút: 0,40 (p90 0,80); 165 phút: 0,50 (p90 0,81). 60 phút đầu tuần: vàng trung vị 8,27 pip, EUR/USD 3,40 pip. Dòng dưới mỗi khung là trung vị theo ngày: vàng Thứ Hai 6,54, Thứ Ba 6,37, Thứ Tư 6,10, Thứ Năm 6,17, Thứ Sáu 6,00, Chủ Nhật 7,40; EUR/USD Thứ Hai 0,40, Thứ Ba 0,40, Thứ Tư 0,40, Thứ Năm 0,40, Thứ Sáu 0,40, Chủ Nhật 0,90 (Chủ Nhật là phiên mở tuần). 4 tuần mẫu, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.
Giờ đầu tiên sau khi thị trường mở lại tối Chủ Nhật có spread trung vị gấp 1,3 lần bình thường với vàng và 8,5 lần với EUR/USD; từ thứ Hai tới thứ Sáu thì gần như ngang nhau. 4 tuần mẫu, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.

Mức giãn ở mỗi nơi một khác, nên hãy tự quan sát đúng vào những giờ bạn hay vào lệnh, thay vì tin con số quảng cáo lúc thị trường yên.

Cách Tính Chi Phí Spread

Theo Tiền

Chi phí = chênh lệch theo pip × giá trị pip của 1 lot × số lot. Ví dụ số giả định:

  • EUR/USD chênh 1 pip, 1 lot: 1 × 10 = 10 USD mỗi lệnh. 0,1 lot là 1 USD.
  • Vàng chênh 0,3 USD, tức 3 pip, 0,1 lot: 3 × 1 = 3 USD. Tính theo ounce: 10 ounce × 0,3 = 3 USD.

Khoản này trả một lần cho mỗi lệnh, vì mở ở một phía và đóng ở phía kia. Vào ra hai mươi lệnh một ngày là trả hai mươi lần. Giá trị pip của từng cặp có ở công cụ Tính Pip.

Theo Phần Của Rủi Ro

Con số tiền chưa nói được chi phí nặng hay nhẹ. Cách đọc tốt hơn là so chênh lệch với khoảng cắt lỗ, tức với 1R, phần bạn chịu mất khi sai:

Phần rủi ro mất cho spread = chênh lệch ÷ khoảng cắt lỗ.

Cắt Lỗ VàngChênh Lệch Giả ĐịnhChiếm Bao Nhiêu Của 1R
2 USD0,3 USD15%
5 USD0,3 USD6%
15 USD0,3 USD2%
30 USD0,3 USD1%

Toán với chênh lệch giả định, không phải số đo. Chưa tính phí hoa hồng và trượt giá.

Cùng một chênh lệch, cắt lỗ càng hẹp thì phần bị ăn mất của mỗi lần chịu lỗ càng lớn, và lệnh thắng cũng bị trừ đúng khoảng đó. Công cụ Chi Phí Mỗi R làm phép chia này cho khoảng cắt lỗ bạn nhập.

Spread Với Người Lướt Sóng

Người lướt sóng (scalper) vào ra nhanh, nhắm những đoạn giá ngắn, nên cắt lỗ và chốt lời đều hẹp. Đó chính là dòng trên cùng của bảng: chi phí chiếm phần lớn nhất của 1R.

  • Cắt lỗ thực chất gần hơn, chốt lời thực chất xa hơn. Lệnh mua đóng ở giá bid. Đặt cắt lỗ và chốt lời cùng cách giá vào 2 USD, chênh 0,3 USD: giá bid chỉ cần đi xuống 1,7 USD là chạm cắt lỗ, nhưng phải đi lên 2,3 USD mới chạm chốt lời.
  • Giờ vào lệnh quan trọng hơn. Vào đúng lúc chênh lệch giãn, như quanh mốc chốt ngày hay lúc ra tin, có thể khiến chi phí chiếm phần lớn khoảng cắt lỗ.
  • Phí cộng dồn theo số lệnh. Lướt nhiều lệnh mỗi ngày là trả nhiều lần mỗi ngày.

Vì vậy cùng một ý tưởng vào lệnh, chuyển xuống khung nhỏ với cắt lỗ hẹp hơn không chỉ làm số lệnh tăng mà còn làm chi phí mỗi R tăng. Khung càng nhỏ, biên độ mỗi cây nến càng hẹp, nên cùng một khoảng chênh chiếm phần càng lớn. Bài trader là gì nói rõ các kiểu trader, từ lướt sóng tới giữ lệnh nhiều ngày.

Khung trên: biểu đồ cột spread chia ATR14 của nến cùng giờ (trung vị theo giờ, %), theo khung M15, H1, H4, vạch là p90. Vàng: M15 9,75% (p90 15,73%, ATR trung vị 61,3 pip); H1 4,73% (p90 6,66%, ATR trung vị 127,6 pip); H4 2,53% (p90 3,15%, ATR trung vị 233,9 pip). EUR/USD: M15 6,14% (p90 15,64%, ATR trung vị 6,5 pip); H1 3,05% (p90 5,35%, ATR trung vị 13,7 pip); H4 1,51% (p90 2,31%, ATR trung vị 28,0 pip). Khung dưới: spread chia ATR14 của M15 theo giờ UTC. Vàng: 0 giờ 12,4%, 1 giờ 11,8%, 2 giờ 10,8%, 3 giờ 10,8%, 4 giờ 11,5%, 5 giờ 12,8%, 6 giờ 12,0%, 7 giờ 10,8%, 8 giờ 9,7%, 9 giờ 10,3%, 10 giờ 11,0%, 11 giờ 11,3%, 12 giờ 10,6%, 13 giờ 9,0%, 14 giờ 7,1%, 15 giờ 5,6%, 16 giờ 5,7%, 17 giờ 6,0%, 18 giờ 8,0%, 19 giờ 8,5%, 20 giờ 10,0%, 21 giờ 8,8%, 22 giờ 19,1%, 23 giờ 16,6%. EUR/USD: 0 giờ 11,4%, 1 giờ 9,9%, 2 giờ 7,2%, 3 giờ 8,4%, 4 giờ 8,4%, 5 giờ 9,2%, 6 giờ 7,8%, 7 giờ 5,9%, 8 giờ 4,9%, 9 giờ 4,9%, 10 giờ 4,9%, 11 giờ 5,6%, 12 giờ 5,7%, 13 giờ 4,1%, 14 giờ 3,5%, 15 giờ 2,9%, 16 giờ 3,6%, 17 giờ 4,2%, 18 giờ 4,8%, 19 giờ 6,1%, 20 giờ 6,8%, 21 giờ 25,3%, 22 giờ 26,1%, 23 giờ 15,5%. 4 tuần mẫu, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.
Cùng một spread, so với biên độ nến M15 nó chiếm khoảng 10% với vàng, so với H4 chỉ khoảng 2,5%. Khung càng nhỏ, chi phí này càng nặng, và nặng nhất quanh mốc chốt ngày. 4 tuần mẫu, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.

Lúc ra tin, đỉnh giãn có thể chỉ kéo dài vài giây, ngắn tới mức mẫu lấy mỗi phút cũng bỏ sót. Hình dưới xem từng giây quanh một lần ra tin việc làm Mỹ.

Hai khung theo từng giây từ 12:20 tới 12:41 UTC ngày 06/06/2025 (8:20 tới 8:41 giờ New York), quanh lúc ra tin việc làm Mỹ 8:30 New York. Khung trên: giá giữa (trung bình giá mua và giá bán) của vàng, từ khoảng 3.358,86 USD trước tin tới 3.350,72 USD một phút sau. Khung dưới: spread từng giây (báo giá đang hiệu lực), tính bằng pip: trung vị trong cửa sổ 7,3 pip, đỉnh 59,5 pip lúc 12:30:02, cả tuần tick trung vị 6,27 pip; chấm vuông là mẫu cuối mỗi phút như số chính của các hình spread khác, cao nhất 28,9 pip (phút 12:29). Trong cửa sổ có 20 giây spread từ 20 pip trở lên; trong 30 phút trước và sau, chỉ 7 giây có spread từ 29,75 pip (nửa đỉnh) trở lên. Một tuần tick, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.
Lúc tin việc làm Mỹ ra ngày 06/06/2025, spread vàng nới dần từ vài chục giây trước tin, vọt lên khoảng 60 pip trong vài giây ngay sau 8:30 New York rồi co lại; mẫu cuối mỗi phút chỉ thấy khoảng một nửa đỉnh. Một tuần tick, một nguồn dữ liệu, nơi giao dịch khác sẽ khác.

Cách Đọc Spread Trên MT5

  1. Bật cột Spread trong Market Watch. Bấm chuột phải vào bảng Market Watch, chọn Columns, đánh dấu Spread. Cột này hiện chênh lệch lúc này tính bằng point, không phải pip: với EUR/USD báo năm số lẻ, 12 point là 1,2 pip; với vàng hai số lẻ, 30 point là 0,3 USD, tức 3 pip.
  2. Bật đường giá ask trên chart. Chart của MT5 vẽ theo giá bid. Mở thuộc tính chart (phím F8), đánh dấu ô Show Ask line để thấy cả đường ask; khoảng giữa hai đường là spread.
  3. Xem loại chênh lệch trong đặc tả. Chuột phải vào mã, chọn Specification: dòng Spread ghi floating là thả nổi, ghi một con số là cố định.
  4. Đừng coi spread lưu theo cây nến là spread lúc vào lệnh. Con số trong cửa sổ Data Window là mức thấp nhất trong cây đó, không phải mức bạn gặp khi vào lệnh giữa cây.

Thêm một hệ quả của việc chart vẽ theo giá bid: lệnh bán đóng ở giá ask, nên cắt lỗ của lệnh bán bị chạm khi đường ask chạm mức đó, dù nến trên chart chưa tới. Lúc chênh lệch giãn, chuyện này hay xảy ra và dễ bị hiểu nhầm là bị quét lệnh.

Sai Lầm Thường Gặp Với Spread

  • Nhìn chênh lệch lúc yên rồi coi là lúc nào cũng vậy. Spread thả nổi đổi theo giờ; con số giữa phiên không đúng cho mốc chốt ngày hay lúc ra tin.
  • Đặt cắt lỗ lệnh bán sát đỉnh trên chart. Cắt lỗ lệnh bán chạy theo giá ask, nên cần chừa thêm một khoảng chênh phía trên mức muốn đặt.
  • Đặt lệnh chờ mua đúng đáy trên chart. Lệnh chờ mua khớp khi giá ask chạm mức; giá bid chạm đáy mà ask chưa xuống tới thì lệnh không khớp.
  • Bỏ qua chi phí khi đánh giá một chiến lược. Một luật thắng ít trên giấy có thể âm sau khi trừ phí, nhất là với cắt lỗ hẹp. Hãy đo theo R sau phí, xem Phương Pháp Đo.
  • Chỉ so chênh lệch mà quên phí hoa hồng. Chênh lệch hẹp kèm phí có thể đắt hơn chênh lệch rộng không phí. Cộng cả hai rồi mới so.
  • Đổ lỗi cho chênh lệch ở mọi lệnh bị cắt. Chênh lệch giãn giải thích được vài lần chạm cắt lỗ quanh mốc chốt ngày, không giải thích được một cắt lỗ đặt quá gần.

Kết Luận

Spread là chênh lệch giữa giá ask và giá bid: mua khớp giá ask, bán khớp giá bid, nên lệnh nào cũng bắt đầu bằng một khoản âm đúng bằng chênh lệch đó. Loại thả nổi hẹp lúc thị trường đông và giãn ở mốc chốt ngày, đầu tuần, lúc ra tin và khi thanh khoản mỏng. Tính chi phí theo tiền thì dễ, nhưng tính theo phần của 1R mới thấy nó nặng tới đâu, nhất là với cắt lỗ hẹp. Đọc tiếp lot là gì, swap là gì và thử công cụ Chi Phí Mỗi R.

Tự Kiểm Tra

Câu 1 / 2Nền Tảng
Vàng đang báo giá 4.000,10 / 4.000,40. Bạn mua 0,1 lot. Ngay khi mở, lệnh đang lãi lỗ bao nhiêu?

Câu Hỏi Hay Gặp

Spread bao nhiêu là thấp?

Không có ngưỡng chung, vì chênh lệch phải so với khoảng cắt lỗ của bạn. Với cắt lỗ rộng, nó gần như không đáng kể; cùng mức đó với cắt lỗ rất hẹp có thể ăn một phần lớn mỗi R. Hãy chia chênh lệch cho khoảng cắt lỗ để xem nó chiếm bao nhiêu.

Vì sao spread vàng hay giãn lúc sáng sớm?

Khoảng 4 tới 5 giờ sáng giờ Việt Nam là mốc chốt ngày giao dịch theo giờ New York. Nhiều bên báo giá tạm rút trong lúc chuyển ngày, giá chào thưa đi nên chênh lệch giãn, rồi co lại sau ít phút. Lệnh có cắt lỗ sát giá dễ bị chạm trong lúc này.

Bid ask là gì?

Bid là giá cao nhất bên mua đang trả, cũng là giá bạn bán được ngay. Ask là giá thấp nhất bên bán đang chào, cũng là giá bạn mua được ngay. Chênh lệch giữa hai giá này là spread.

Spread thả nổi hay cố định tốt hơn?

Không loại nào tốt hơn trong mọi trường hợp. Loại cố định dễ tính trước nhưng thường rộng hơn lúc thị trường yên, và lúc biến động mạnh có thể bị báo lại giá. Loại thả nổi thường hẹp hơn nhưng giãn rộng khi có tin. Chọn theo giờ bạn hay giao dịch và tính cả phí hoa hồng.

Nguồn dữ liệu: Giá: nến 15 phút và tick (giá mua, giá bán) XAU/USD và EUR/USD của Dukascopy, giờ UTC. Spread đo trên mẫu tick nhiều tuần, là spread của một nguồn dữ liệu, nơi bạn giao dịch có thể khác. Phần tổng kết số đo lấy từ các mã đã đo trên site. Sổ Đính Chính: Bản 1, 07/11/2026.

Nội dung chỉ nhằm mục đích giáo dục, không phải khuyến nghị mua, bán hay nắm giữ tài sản nào và không phải tư vấn đầu tư. Giao dịch ngoại hối, vàng, CFD và tài sản mã hoá thường dùng đòn bẩy, rủi ro cao, có thể mất toàn bộ vốn. Số đo là kết quả quá khứ, không bảo đảm kết quả tương lai. Đọc Cảnh Báo Rủi Ro

Đọc Tiếp Trong Nền Tảng